Nhà Lý (từ năm 1010 đến 1225)

Lê tàn, Lý lại nẩy chồi,
Hai trăm năm lẻ, tám đời hiển vinh.

Lý-Thái-Tổ tục-danh Công-Uẩn (1010-1027),
Hiệu Thuận-Thiên, giữ vững mối giềng:
Đúc chuông, xây dựng chùa chiền,
Dịnh ra pháp-luật giữ yên trong ngoài.

Lý-Thái-Tông lên ngai kế tiếp (1028-1054),
Vị anh-quân nối nghiệp lâu dài,
Quyết tâm gìn giữ đất đai;
Nùng tan (1042), Chiêm phục (1044), rõ tài chỉ-huy.

Các tướng lãnh, ai bì Thường-Kiệt (1075),
Suốt một đời, oanh-liệt, tung hoành,
Bắc chinh, tướng Tống nể danh.
Đuổi Chiêm, thâu đất Trị, Bình về ta.

Lý-Thánh-Tông đang đà mở nước (1054-1072,)
Đến Nhân-Tông còn được giữ yên (1072-1127).
Sau nầy ba vị thiếu niên;
Anh, Cao và Huệ cầm quyền không xong.




---------------------------------------------
* Chú thích:
(62) Công-Uẩn; Lý-Công-Uẩn người làng Đình-Bảng, phủ Từ-Sơn, tỉnh Bắc-Ninh
(63) Thường-Kiệt: Lý-Thường-Kiệt chống quân nhà Tống ở sông Như-Nguyệt là khúc dưới sông Cầu.
(64) Lý-Anh-Tông (1138-1175), Lý-Cao-Tông (1176-1210), Lý-Huệ-Tông (1211-1225).
(65) Hiến-Thành: Tô-Hiến-Thành.
(66) Triều Tống, sinh Nguyên: Sai người qua chầu nhà Tống, đem lễ vật mừng nhà Nguyên vì lúc bấy giờ bên Tàu nhà Nguyên đánh nhà Tống để lên làm vua.
(67) Thất-chánh: Mất làm chính-trị. Cao-Tông giết Bỉnh-Di là tướng trung-thành, rồi bỏ ngôi và chạy trốn cùng Thái-tử Sảm. Sảm gặp con gái Trần-Lý có nhan-sắc liền lấy làm vợ.
(68) Tiếm-giai: Bậc thang để bước đến chỗ tranh quyền vua.
(69) Huệ-Tông có bệnh điên, lại thường uống rượu say ngủ cả ngày. Cuối năm 1224 ông vào tu ở chùa Chân- Giáo, truyền ngôi cho con gái út bấy giờ mới 7 tuổi, là Lý-Chiêu-Hoàng.
(70) Thủ-Đô: Trần-Thủ-Đô
---------------------------------------------
---------------------------------------------

Comments:

---------------------------------------------