Nhà Hậu-Lê và thời-kỳ phân tranh (từ năm 1533 đến 1788)

Sau năm năm, Mạc thâu bờ cõi,
Có Nguyễn-Kim, tướng giỏi Nhà Lê.
Mười năm khai-thác chẳng nề…
Phủ Lê, diệt Mạc, tiến về Nghệ, Thanh (1540-1542).

Quyết từ đấy, chiến tranh liên-tục,
Giúp Trang Tông khôi-phục Thăng-Long (1543).
Tiếc thay nghiệp cả chưa xong…(mất 1544)
Thống-quân , nhờ rể lập-công thay mình.

Trịnh-Nguyễn phân tranh

Họ Trịnh xưng Chúa xứ Bắc

Rồi Trịnh-Kiểm giao-binh cùng Mạc.
Đời Trịnh-Tùng mới đạt nhiều công.
Cơ-đồ, Chúa-Trịnh lập xong,
Tự xưng "Nguyên-súy…" nắm trong lẫn ngoài.

Suốt thời Trịnh, vua ngồi làm vị.
Chúa giữ quyền chính-trị trong tay.
Mười đời Chúa Trịnh đổi thay,
Vua mười lăm vị, nối ngai vô quyền .

Họ Nguyễn xưng Chúa xứ Nam

Bởi Trịnh Kiểm gây nên tai-biến:
Giết Nguyễn-Uông, độc-chiếm uy-quyền.
Nguyễn-Hoàng sợ ở không yên,
Xin vào Thuận-Hóa (1558) lập riêng cơ-đồ.

Được vua phong cõi bờ trấn giữ,
Cùng Trịnh-gia một thuở phân-tranh.
Tương-tàn để hận sông Gianh!
Bốn lăm năm loạn, chiến-chinh bảy lần!

Công việc Chúa Trịnh

Trịnh, phương Bắc cầu-tân Trung-Quốc,
Mở ngoại-thương các nước Nhật, Lan .
Chỉnh-tu pháp-luật, an-bang.
Khai-thông hầm mỏ, mở-mang học-hành,

Đánh Cao-Bằng, hạ thành nhà Mạc.
Dẹp bao phen nội-tặc nhiễu-nhương ,
Hai trăm năm lẻ chủ-trương:
Phù Lê mượn tiếng, tranh-cường Nguyễn-Gia.

Trong thời ấy, nhiều nhà văn-sĩ...
Với thi ca nay hãy còn truyền:
"Phụ ngâm", "Cung-oán" , "Hoa Tiên" v.v.
Gia-tăng phong-phú cho nền văn-thi.

Còn ảnh-hưởng nhiều về hậu-thế:
Thời Gia-Long, đáng kể truyện Kiều,
Lời lời gấm dệt hoa thêu…
Quốc-văn từ đấy thêm nhiều vẻ-vang…

Công việc Chúa Nguyễn

Nam, Chúa Nguyễn trên đàng mở đất,
Hai trăm năm hoàn-tất các miền.
Chiêm-Thành, Chân-Lạp nối liền,
Giang-Sơn mở đến Hà-Tiên bây giờ.

Đặt thuế-khóa, quân cơ phòng-thủ.
Lập thêm dinh, định phủ khắp nơi…
Vũ-công oanh-liệt một thời.
Đất-đai muôn dặm, mười đời công-phu.

Người Âu-châu sang Đại-Việt trong thời Trịnh-Nguyễn phân tranh

Người Âu-Châu qua mưu truyền đạo,
Lần đầu-tiên, Công-giáo Gia-Tô;
Lâm-thời, A-lếch-đờ rô ,
Phiên-âm quốc-ngữ truyền cho người mình.

Các thị-trấn thạnh-hành buôn bán;
Tàu ngoại-bang lai vãng liên-miên.
Hội-An là phố đầu tiên,
Thứ nhì phố Hiến, vang tên một thời.




---------------------------------------------
* Chú thích:
(97) Lê-Trang-Tông (con út của Lê-Chiêu-Tông) và Nguyễn-Kim nương-náu 10 năm ở Sầm-Châu (Ai-Lao) từ 1532 để chiêu-tập quân-sĩ.
(98) Thống-quân: Giữ binh-quyền điều-khiển quân-đội.
(99) Rể ông Nguyễn-Kim là Trịnh-Kiểm.
(100) Nguyên-súy: Năm 1599, đời vua Lê-Thế-Tông, Trịnh-Tùng tự xưng làm "Đô Nguyên-Súy Tổng-Quốc- Chính Thượng-phụ Bình-an-vương” định lệ cấp bổng cho vua Lê.
(101) Thời Vua Lê, Chúa Trịnh; Lê-Trung-Hưng (1593-1729), Lê-Suy (1729-1782), cuối đời Lê (1783-1789).
(102) Nguyễn-Uông và Nguyễn-Hoàng là con ông Nguyễn-Kim.
(103) Nhật-Bổn và Hòa-Lan
(104) Nhiễu-nhương: Rối loạn và cướp bóc.
(105) Cung-oán ngâm khúc và Chinh-phụ ngâm khúc.
(106) Quân-Cơ: Quân chia làm 5 cơ.
(107) Alexandre de Rhodes. Các giáo-sĩ bên Âu-Châu qua truyền đạo đã từng dùng mẫu-tự La-tinh để phiên-âm tiếng Việt cho dễ đọc tiếng Việt mà truyền đạo cho người Việt. Cuộc phiên-âm có lẽ chỉ là làm tạm thời ấy, không ngờ đã là một công-trình sáng tác ra chữ quốc-ngữ mà cố Alexandre de Rhodes người Pháp đã thực- hiện trong cuốn tự-điển Dictionarim Annamiticum et Latinum xuất-bản năm 1951 tại La Mã (Trích Cây văn- hiến).
---------------------------------------------
---------------------------------------------

Comments:

---------------------------------------------