Thống nhất thời đại và nhà Nguyễn (từ năm 1802 đến 1862)

Cháu Chúa Nguyễn, gọi là Nguyễn-Ánh,
Trốn Tây-Sơn ra lánh nước ngoài:
Xiêm-La, Phú-Quốc khắp nơi,
Viện binh đánh Lữ, mấy hồi gian-nan.

Chiếm Gia-Định mở-mang liên-tiếp…
Khẩn đất hoang, giao-thiệp với Tây,
Nguyễn-Vương thế mạnh từ đây,
Mấy lần tiến thoái, cũng dày công-phu.

Cũng thời-thế, cũng do khí-giới,
Nguyễn tóm thâu một mối giang-sơn.
Quốc-danh, đổi lại Việt-Nam,
Kinh-Đô đóng ở Phú-Xuân bấy giờ.

Mười tám năm, cõi bờ xây dựng (1802-1819),
Vua Gia-Long giữ vững mối giềng;
Chỉnh-tu bộ luật đầu tiên,
Xây thành, đắp lũy các miền hiểm nguy.

Việc thuế-khóa đồng thì định lại.
Sự an-ninh, được tái-lập đều.
Ngôi vàng, truyền tới mấy triều …
Vua, mười hai vị, gặp nhiều gian-truân.

Vua Minh-Mệnh, chuyên-cần, hiếu-học (1820-1840),
Hai mươi năm giữ được mối giềng.
Đặt Cơ-mật-viện đầu tiên,
Định ra lương-bổng và tiền dưỡng-liêm.

Về học-vấn, mở thêm khoa-cữ.
Nhưng bang-giao, đối-xử quá khinh
Tây, Âu… những nước văn-minh,
Không hề xét hỏi, dứt tình ngoại-thương.

Lại giết hại, xem thường Giáo-sĩ,
Nên ngoại-bang dụng-ý can vào.
Tình-hình trong nước xôn-xao,
Khôi, Vân dấy loạn đã bao nhiêu lần (1833).

Vua Thiêu-trị cũng tần cấm đạo (1841-1847);
Tự-Đức sau hoài-bão ý cha (1847-1883).
Lại thêm trong nước xảy ra,
Biết bao giặc-giã khó mà dẹp yên.

Thừa-cơ ấy, Pháp liền thôn-tính:
Tỉnh Biên-Hòa, Gia-Định, Định-Tường,
Còn mưu Trung, Bắc thị-trường…
Nghị-hòa nhâm-tuất (1862) ký nhường vừa xong.

Vua Tự-Đức những mong chuộc lại…
Việc không xong, còn phải mất dây:
Nam-Kỳ, ba tỉnh miền Tây .
Nghị-Hòa Giáp-tuất (1874) đổi thay lắm điều:

Nhường Nam-Kỳ và nhiều hải-cảng,
Mở ngoại-thương, buôn bán tự-do…
Triều-đình Huế những đắn đo…
Ngày càng yếu thế, càng lo bội phần.

Thành Hà-Nội hai lần thất-thủ ;
Mất Bắc-Kỳ, hải-khẩu Thuận-An.
Quí-mùi (1883) tiếp đến Giáp-Thân (1884),
Nhận nền bảo-hộ ngoại nhân từ ngày.

Các Trấn-Thủ lòng ngay, chí cả.
Sự tiết trung kia đã được ghi;
Tri-Phương, Hoàng Diệu ai bì ,
Quên mình vì nước, một bề chống Tây.

Trương-Công-Định cũng đầy nhiệt-huyết,
Mầm ngoại-xâm cố diệt cho tan,
Gò-Công, Chợ-lớn, Tân-An v.v…
Những nơi chống Pháp, ngày càng thêm gay …

Bởi quốc-vận gặp đầy tai biến;
Kém vũ-trang, phương-tiện cứu nguy.
Giang-Sơn, sự-nghiệp suy-vì!
Tám mươi năm lẻ, sử ghi hận thù.




---------------------------------------------
* Chú thích:
(115) Phú-Xuân: Bây giờ gọi Huế.
(116) Khôi, Vân: Nông-Văn-Vân nổi lên ở vùng thượng-du Bắc-Việt; Lê-Văn-Khôi là con nuôi Lê-Văn-Duyệt nổi lên chiếm đất Nam-Kỳ.
(117) Vĩnh-Long, An-Giang, Hà-Tiên.
(118) Pháp hạ thành Hà-Nội lần thứ 1 năm quí-dậu (1873), lần thứ 2 năm nhâm-ngọ (1882)
(119) Nguyễn-Tri-Phương, khi thành Hà-Nội thất-thủ lần thứ 1, bị thương, Pháp đem băng bó khuyên-lơn, ông không chịu và nhịn ăn để tự-tiết 20-12-1873, Hoàng-Diệu, quan Tổng-Đốc Hà-Nội, khi được tin Pháp vây thành lần thứ 2, liệu thế không xong, thắt cổ mà tự-vận.
---------------------------------------------
---------------------------------------------

Comments:

---------------------------------------------