VIỆT NAM LƯỢC SỬ CA

MỞ ĐẦU

Việt-Nam ta giống da vàng,
Khai-tiên từ họ Hồng-Bàng đến nay.
Trải bao nhiêu chuyện dở hay …?
Bốn nghìn năm lẻ, đổi thay mấy đời?
Thịnh, suy, dâu bể, cơ trời,
Nước non bờ cõi, hiện thời tới đâu?
oOo
Từ Nam-quan đến Cà-Mâu,
Hình cong chữ S, hai đầu rộng hơn.
Phía Tây có dãy Trường-Sơn,
Lào, Miên diện-tích nhỏ hơn nước nhà.
Phía Nam giáp Vịnh Xiêm-La.
Phía Đông giáp biển thông ra Thái-Bình.
Bắc-phương từng chống hoa-binh ,
Xâm-lăng quân nọ, tan tành mấy phen…?
Giang-sơn vẫn giữ còn nguyên,
Ba trăm nghìn lẻ một miền thênh thênh.
Hơn năm mươi triệu sinh-linh,
Con Hồng, cháu Lạc hiển-vinh giống nòi,
Lần trang lịch-sử mà coi,
Từ đầu đến cuối xét soi cho tường.

THƯỢNG-CỔ THỜI-ĐẠI (từ năm 2879 đến 111 trước Tây-lịch)

Theo những truyện hoang-đường thời cổ:
Vua Đế-Minh tuần thú gặp tiên,
Cùng người kết tóc xe duyên,
Sinh ra Lộc-Tục nghiệp truyền xưng vương

Nước Xích-Quỷ, Nam-phương mở đất,
Họ Hồng-bàng thứ nhất từ đây.
Dương-vương, Long-nữ duyên vầy,
Trưởng-nam Sùng-Lãm sau nầy nối ngôi.

Lạc-Long-Quân từ hồi kế vị,
Duyên trăm năm kết chỉ xe tơ,
Với nàng Tiên-Nữ Âu-Cơ,
Sinh ra trăm trứng nở vừa trăm trai,

Vì thủy, hỏa chia tay đôi ngã:
Chốn Nam-thùy phân nửa theo cha;
Hướng về núi Tản, non Ba ,
Năm mươi theo mẹ chia ra các miền.

Người con trưởng được truyền vương-nghiệp
Mười tám đời liên tiếp lập công,
Hùng-Vương đô ở Châu-Phong,
Văn Lang là nước, rạng dòng Rồng, Tiên.

Đặt Lạc-tướng coi bên võ-bị,
Quan Lạc-hầu cai-trị nhân-dân;
Vĩnh-Yên thẳng đến Bình-Văn ,
Gồm mười lăm bộ, cát-phân cũng tường.
Với Trung-Quốc mở đường giao-hữu,
Dâng Đế-Nghiêu vật bửu Thần-quy.
Nhân-dân sinh-hoạt tùy-nghi :
Văn-thân quen thói kẻ đi lưới chài.

Đời thứ sáu, thiên-tài "Phù-Đổng"
Vì giặc Ân, phút bỗng anh-linh:
Gươm vàng, ngựa sắt đề-binh,
Giúp vua dẹp giặc, tàng-hình , lên tiên.

Đời mười tám, đôi bên Sơn, Thủy ,
Vì Mị-Nương, ầm-ĩ đánh ghen,
Thủy dân tãn núi một phen...
Lưu-truyền, sông Nhị nước lên mùa hè .

Dòng phụ-đạo quyền về một họ.
Sự đổi thay cũng có cơ trời.
Hai nghìn năm lẻ nối ngôi.
Ai ngờ sau lại đến hồi Thục tranh.

Nhà Thục (từ năm 257 đến 207 trước Tây-lịch)

Đời Thục-Phán, Loa-thành xây dựng
Nhờ Kim-qui , giữ vững cõi bờ.
Quốc-danh Âu-Lạc bấy giờ,
Năm mươi năm chẵn, đến cơ hiểm nghèo.

Thục có nỏ, quân nào sánh nổi,
Nên Triệu-Đà lập mối kết thân:
Thông-gia , gởi rể ân-cần,
Âm-mưu tráo lảy nỏ thần Thục-vương.

Nhà Triệu (từ năm 207 đến 111 trước Tây-lịch)

Tần dụng-ý phân-cương Bách-Việt,
Chiếm Lĩnh-Nam là miệt nhiều châu...
Khác nào tằm nọ ăn dâu...
Lấn dần Âu-Lạc, tóm thâu một nhà.

Đặt Nam-Hải Triệu-Đà trấn thủ;
Triệu âm-mưu tự-chủ phương Nam.
Hoàn-thành những việc giả-tâm,
Thân-chinh diệt Thục, sơn lâm băng miền...

Thục mất lảy, nước liền bị chiếm.
Triệu thiên đô cứ-hiểm Phiên-ngung.
Năm đời họ Triệu xưng hùng.
Quốc-danh Nam-Việt lẫy-lừng một phương.

Nhưng rất tiếc, Ai-vương thơ ấu,
Việc triều-đình chưa thấu mảy may;
Nỗi niềm Cù-Thị riêng tây:
Định dâng đất nước qua tay Sứ-thần.

Gã Thiếu-Quí vốn nhân-tình cũ,
Sẵn mưu sâu Hán-chủ đưa sang...
Hai bên đôi mặt giao-hoan,
Tình riêng gặp hội, hòa-thân một lòng.

Mưu đã quyết, khó hòng dung-túng,
Nên Lữ-Gia giữ đúng triều cương:
Giết Cù-Hậu lẫn Ai-vương;
Bèn tôn Kiến-Đức Vệ-Dương trị-vì.

Bốn đời trước thành-trì vững-chãi,
Đến Vệ-vương gặp phải gian-truân :
Nào là quốc-nạn , địch-nhân...
Một năm nối nghiệp, hai lần chiến tranh !

BẮC-THUỘC LẦN THỨ NHẤT (từ năm 111 trước Tây-lịch đến 39 sau Tây-lịch)

Quân Tây-Hán sang giành bờ cõi...
Sử nước ta sao khỏi vết đen...?
Thăng, trầm từ đấy bao phen...
Non sông tang tóc máu hoen hận thù!
Các Thái-thú người Tàu cai trị:
Có Nhâm-Diên thành-ý khuyến nông.
Dạy dân xe mối chỉ hồng,
Tích-Quang truyền bá Hoa-phong từ ngày.

Đến Tô-Định đổi thay chính sách:
Đã tham-tàn, cưỡng-bách nhân-dân,
Sưu cao, thuế nặng muôn phần,
Mò trai đáy biển, lên ngàn tìm voi….

Giết Thi-Sách tướng coi việc nước;
Khiến lòng người uất ức khôn ngăn!
Thù nhà nợ nước bâng khuâng!
Ngàn-Tây , Trưng-Trắc chiêu quân các miền.

HAI BÀ TRƯNG DỰNG NỀN ĐỘC LẬP (từ năm 40 đến 43)

Trưng-Nhị quyết thề nguyền hiệp sức
Hai chị em nhẹ bức chinh-yên,
Phất cờ khởi-nghĩa Long-biên ,
Đuổi ngay Tô-Định, dựng nên cơ đồ.

Cõi Mê-Linh đế-đô nổi tiếng,
Mới ba thu, quốc-biến, gia vong:
Hán sai Mã-Viện tấn công…
Cấm-khê nhi-nữ khốn mong vẫy vùng.

Nơi sông Hát, đường cùng thế tận ,
Hai chị em nuốt hận nghìn thu:
Liều mình với nước sông sâu.
Giang sơn bao phủ một màu tang-thương!

BẮC THUỘC LẦN THỨ 2 (từ năm 43 đến 544)

Lúc Mã-Viện lên đường về nước,
Đến Ải-quan dừng bước ghi công:
Thị-uy xây dựng trụ đồng ;
Đặt nền đô hộ, những hòng dài lâu.

Các Thái-thú Trung-Châu bổ-nhiệm,
Có Sĩ-Vương , về điểm giáo dân, (187-226)
Mở nền học-vấn Hoa-văn.
Nho-lưu , trị quốc có phần qui-mô .

Dứt Đông-Hán, Giao-Châu lệ-thuộc,
Nhà Đông-Ngô ép buộc thuế xâu…
Lại phen thay bạn mày râu,
Cửu-Chân, Triệu Ẩu đứng đầu khởi binh,

“Đạp sóng dữ, tràng-kình giết sạch…”
Quyết cứu dân khỏi ách trầm-luân .
Hiềm vì cô thế, ít quân,
Chí cao khôn đạt, gởi thân chiến-trường.

Thời Tam-quốc, tranh-cường, loạn-lạc…
Quân Chiêm-thành đánh hạt Giao-Châu,
Tấn-triều gặp lúc lo âu…
Dân ta thừa dịp, chặt xâu xích xiềng.

NHÀ LÝ (từ năm 544 đến 602)

Tiền Lý Nam-Đế (từ năm 544 đến 548)

Lý Nam-Đế quật-cường trỗi dậy,
Đuổi xâm-lăng giữ lấy giang-san.
Quốc-danh đặt lại Vạn-Xuân…
Hai năm chấp-chánh, địch-quân phục-thù.

Khuất-Liêu động nghìn thu nuốt hận.
Quang-Phục thay sứ mạng chống Lương
Thành-công, họ Triệu xưng vương;
Hai mươi năm lẻ (549-571), bốn phương thái-bình

Hậu Lý Nam-Đế (từ năm 571 đến 602)

Sau Phật-Tử lên giành ngôi quí.
Ba mươi năm Hậu-Lý nối dòng.
Vì chưng thất trận Đô-Long ,
Giao-Châu lại lọt vào vòng lầm than!

BẮC-THUỘC LẦN THỨ BA (từ năm 603 đến 939)

Kể từ đấy, Tùy sang đô-hộ (603-617).
Đến nhà Đường, đặt Phủ An-Nam (618-907).
Quan Đường lắm kẻ tham-lam,
Bạo-tàn, khắt nghiệt, dân căm oán thù!

Trước Hắc-Đế (722), và sau Bố-Cái (791) ,
Phất cờ lên giành lại tự-do.
Anh-hùng vận-khứ, thế cô… !
Ba trăm năm lẻ, cơ-đồ tang-thương!

Họ Khúc dấy nghiệp (từ năm 906 đến 923)

Đời Ngũ-Quí , phân-cương loan-lạc.
Họ Khúc-Thừa giữ hạt Giao-châu,
Trị dân thay thế quan Tàu;
Sửa sang việc nước, truyền nhau ba đời .

Họ Khúc dứt, lòng người ly tán,
Tranh quyền nhau, rước Hán dày mồ.
Sau nhờ có Tướng họ Ngô ,
Diệt quân tham-tặc, cơ-đồ lập nên.

TỰ-CHỦ THỜI-ĐẠI (từ năm 939 đến 1862)

Quân Nam-Hán một phen điêu đứng:
Sông Bạch-Đằng với những cọc thiêng,
Ngô-Quyền viên gạch đầu tiên (939),
Xây nền độc-lập, chủ-quyền từ đây.

Đặt quan-chức, đổi thay phục-sắc…
Mới sáu thu đã thất lộc trời.
Lệnh truyền Xương-Ngập nối ngôi.
Tam-Kha em vợ, gian-hồi tranh phân

Gây giặc-giã bao lần trong xứ.
Các sứ-quân chiếm-cứ khắp nơi (956-967),
Mười hai hùng-tướng một thời,
Qua phân đất nước, tơi bời sinh-linh.

Nhà Đinh (từ năm 968 đến 980)

Đinh-Bộ-Lĩnh tiến binh anh-dũng:
Dẹp Sứ-quân, giữ vững biên-cương...
Hiệu xưng là Vạn-Thắng-Vương,
Tiên-Hoàng sáng-lập miếu-đường Hoa-Lư.

Đại-Cồ-Việt, đặt từ hồi ấy.
Mười hai năm đã thấy suy-vi:
Mặc dầu hình-phạt thị-uy ,
Cơn mơ Đỗ-Thích làm nguy hai đời .

Vệ sáu tuổi, lên ngôi nối nghiệp,
Nên Lê-Hoàn thừa dịp tiếm danh.
Từ đây “Thập đạo...” hoành-hành,
Cùng Dương-Thái Hậu tư-tình, điều-binh.

Quan điền, Bặc bất-bình chống lại,
Cả hai đều thất bại thác oan!

Nhà tiền-Lê (từ năm 980 đến 1009)

Nghe tin giặc Tống sắp sang,
Tướng-biền phù-lập Lê-Hoàn lên ngôi.

Lê-Đại-Hành là người trí, dũng,
Giữ non sông bền vững khắp nơi.
Bình Chiêm, phá Tống mấy hồi ,
Hăm lăm năm chẵn, một thời vẻ vang (980-1005).

Lê-Long-Đĩnh bạo-tàn sớm thác (1005-1009),
Đình-thần vời họ khác lên ngôi.

Nhà Lý (từ năm 1010 đến 1225)

Lê tàn, Lý lại nẩy chồi,
Hai trăm năm lẻ, tám đời hiển vinh.
Lý-Thái-Tổ tục-danh Công-Uẩn (1010-1027),
Hiệu Thuận-Thiên, giữ vững mối giềng:
Đúc chuông, xây dựng chùa chiền,
Dịnh ra pháp-luật giữ yên trong ngoài.

Lý-Thái-Tông lên ngai kế tiếp (1028-1054),
Vị anh-quân nối nghiệp lâu dài,
Quyết tâm gìn giữ đất đai;
Nùng tan (1042), Chiêm phục (1044), rõ tài chỉ-huy.

Các tướng lãnh, ai bì Thường-Kiệt (1075),
Suốt một đời, oanh-liệt, tung hoành,
Bắc chinh, tướng Tống nể danh.
Đuổi Chiêm, thâu đất Trị, Bình về ta.

Lý-Thánh-Tông đang đà mở nước (1054-1072,)
Đến Nhân-Tông còn được giữ yên (1072-1127).
Sau nầy ba vị thiếu niên;
Anh, Cao và Huệ cầm quyền không xong.

Nhưng Hậu-Lý có công xây dựng.
Nhờ Hiến-Thành nắm vững thời cơ;
Ngoại giao cường-quốc bấy giờ,
Phái người triều Tống, dâng đồ sinh Nguyên .

Giữ ngoại-xâm được yên phương Bắc.
Đánh Ai Lao, dẹp giặc Chiêm-Thành.
Tuyển binh, cung mã tập tành,
Mở đường học-vấn ban-hành luật thi.

Lý-Cao-Tông trong khi thất-chánh ,
Kết thông-gia, Lý sánh cùng Trần.
Cho hay con tạo xoay vần;
Họ Trần thừa thế dần dần tiếm giai .

Lý-Huệ-Tông không trai kế-thế,
Chốn ngai vàng, tự phế đi tu .
Nhường ngôi công-chúa tiếp-thu…
Thái-sư Thủ-Độ đắc mưu gian-hùng;

Cho Trần-Cảnh vô cung hầu cận,
Khiến hoa đào phải dạn gió đông,
Vua, tôi thành đạo vợ chồng.
Lý nhường Trần giữ ngôi Rồng từ đây (1225).

Nhà Trần (từ năm 1225 đến 1400)

Trần-Thái-Tông lên ngai còn nhỏ (1225-1358);
Nhưng Trần-Thừa sẵn có kinh-luân .
Ba mươi năm lẻ trị-an,
Nhờ Trần-Thủ-Độ mưu toan đặt bày;

Việc võ-bị đổi thay củng-cố.
Học cùng thi, Tam-giáo mở mang;
Thích, Nho và Lão ngang hàng,
Song song dự thí, rộng đàng thanh-vân .

Khoa thi "Đình" mở dần rộng lớn,
Chọn Thám-hoa, Bảng-nhỡn, Trạng nguyên.
Chu-An cùng với Hàn-Thuyên,
Danh-nho xuất-chúng, đặt nền văn Nôm.

Còn nổi tiếng về môn quốc sử,
Lê-Văn-Hưu được cử soạn biên,
Hoàn-thành "Đại-Việt" đầu tiên.
Võ, văn chỉnh đốn, phòng-biên đêm ngày.

Về đời Trần, thường hay loạn lạc:
Mười hai đời, dẹp giặc hiên ngang .
Vua Chiêm nể tiếng Nam-bang,
Dâng châu Ô, Lý, cưới nàng Huyền Trân (1306)
Đời Nhân-tông (1279-1293) có Trần-Quốc-Tuấn
Chống quân Nguyên (1284-1288) xâm lấn cơ đồ:
Bạch-đằng, Tây-kết là mồ,
Chôn quân Ô-Mã, Toa-Đô một bầy .

Quân Mông-Cổ chết đầy sông núi,
Qua hai phen bị đuổi về Tàu.
Giặc Mông thắng khắp Á, Âu ,
Thua cay mới trải lần đầu từ đây.

Tướng-lãnh ta có đầy nhuệ-khí,
Vì quân dân nhất trí, một lòng:
Hịch Hưng-Đạo, hội Diên-Hồng,
Nêu cao khí-tiết, vũ-công một thời.

Cơ-nghiệp Trần đến hồi suy-nhược:
Khiến Nghệ-Tông trị nước không xong,
Hiền, gian thưởng, phạt bất-công…
Quí-Ly nắm cả việc trong, việc ngoài.

Nhà Hồ (từ năm 1400 đến 1407)

Lê-Quí-Ly cướp ngôi, đổi họ,
Vì truy-nguyên Tiên-tổ dòng Hồ.
Kinh-thành đóng ở Tây-Đô ;
Quốc-danh đổi lại Đại-Ngu bấy giờ.

Sau mấy tháng, cõi bờ xây dựng,
Nhường Hán-Thương giữ vững sáu thu.
Hai đời cũng lắm công-phu:
Thân-chinh chiếm đất hai khu Chiêm-Thành.

Dùng chánh-sách thực-hành táo bạo:
Lập kho lương, chế tạo thần-công ,
Đắp đường thiên-lý khai-thông,
Ngự-hàm khuyến-khích dân nông thi-hành.

Lại đặt lệ khai-sanh từ đấy.
Tổng phát-hành tiền giấy đầu tiên .
Định-phương hạn-chế thổ, điền,
Thứ-dân, mười mẫu ruộng riêng là nhiều.

Việc xã-hội lắm điều cải-tiến.
Về văn-chương phát triển theo đà…
Giặc Minh nếu chẳng tràn qua ,
Tương-lai rực-rỡ, quốc gia hùng-cường.

Nhà hậu-Trần với giặc Minh (từ năm 1407 đến 1413)

Vì Nguyễn-Khang (1404) tìm phương soán nghịch
Xưng Trần-Bình, con đích Nghệ-Tông,
Sang Minh kể lể cầu-phong,
Mở đường Trương-Phụ lập-công tôn-phò.

Minh xâm-lược diệt Hồ hoàn-tất,
Đặt quan, quân, chia đất từng châu...
Lo xong Trương-Phụ về Tàu.
Hậu-Trần, Giản-Định bắt đầu dấy quân (1407-1409).

Rồi tiếp đến Trùng-Quang lập nghiệp (1409-1413).
Đều cùng nhau liên tiếp chống Minh.
Đặng-Dung, Cảnh-Dị chí-tình,
Phù Trần, cứu nước, quên mình đáng khen.

Trong bảy năm bao phen chống cự...
Mới hai đời, Trương-Phụ lại sang,
Tung-hoành, ngược-đãi dân-gian!
Mười ba năm lẻ, lầm-than, căm thù (1414-1427).

Nơi Lam-Sơn, mười thu kháng chiến (1418-1427),
Một chồi Lê, khi biến, khi còn…
Lê-Lai, Nguyễn-Trãi bảo tồn;
Anh-hùng Lê-Lợi rửa hờn non sông.

Tại Tụy-động, Vương-Thông bại trận;
Thành Đông-Quang thế-vận không yên,
Minh sai tướng khác sang liền,
Liễu-Thăng ồ-ạt, trận-tiền mạng vong.
Ải Chi-Lăng xương chồng thành đống.
Quân nhà Minh vỡ mộng từ nay.
Giang-sơn thu lại một tay.
Bình-Vương Đại-Cáo ghi ngày liệt oanh.

Nhà Lê (từ năm 1428 đến 1788) và thời kỳ thống nhất (từ năm 1428 đến 1527)

Thái-Tổ giữ quốc-danh Đại-Việt.
Hiệu Thuận-Thiên kiến-thiết từ đây:
Lập thêm ra Đạo Hải-Tây ,
Địa-đồ chỉnh lại, huyện nầy phủ kia.

Đặt luật-pháp ngăn ngừa tội ác.
Mở học đường, định các khoa thi.
Quan-danh, quân-hiệu, triều-nghi.
Quân-điền, quân-dịch, đồng-thì giảng-tu .

Việc nội-trị đã thu kết-quả.
Mối ngoại-giao được thảo lân-bang,
Sáu năm chói rọi ngôi vàng.
Chín đời liên tiếp, mở mang trị-vì…

Đời Thánh-Tông, thời kỳ toàn thịnh (1460-1497):
Lo võ-trang quân lính tập tành,
Ba phen thắng trận uy-danh,
Bồn-Nam, Nam-Chưởng , Chiêm-Thành rã tan

Bèn chiếm đất Đồ-Bàn (1479) mở nước,
Với Lũy, Chiêm, lập được Quảng-Nam.
Đặt thêm ở đất Bồn-Nam ;
Trấn-Ninh phủ mới, mở mang ai tày.

Chỉnh pháp luật, đặt bày quan-chế,
Mở canh-nông, y-tế khắp nơi.
Cải-lương hương-tục hợp-thời,
Đặt ra điều-lệ , người người tuân theo.

Việc khoa-cử, đề-cao, cải-tiến,
"Lệ xướng-danh", lệ tiễn "Vinh qui"
"Tao-đàn…" xướng, họa văn, thi.
Biểu-dương thịnh-trị một thì vẻ-vang.

Đời Hiến-Tông, còn đang dựng nước;
Từ Túc-Tông… nhu-nhược biếng lười.
Đăng-Dung họ Mạc gặp thời…
Cướp ngôi, giết chúa, tới hồi phân-tranh.

Nam-Triều, Bắc-Triều và Nhà Mạc (từ năm 1527 đến 1592)

Sáu lăm năm, Mạc giành Cao-Bắc ;
Năm mươi năm, cướp giặc liên-miên…
Thay vua, chúa Trịnh cầm quyền.
Trịnh cùng với Mạc đôi miền chống nhau.

Nhà Hậu-Lê và thời-kỳ phân tranh (từ năm 1533 đến 1788)
Sau năm năm, Mạc thâu bờ cõi,
Có Nguyễn-Kim, tướng giỏi Nhà Lê.
Mười năm khai-thác chẳng nề…
Phủ Lê, diệt Mạc, tiến về Nghệ, Thanh (1540-1542).

Quyết từ đấy, chiến tranh liên-tục,
Giúp Trang Tông khôi-phục Thăng-Long (1543).
Tiếc thay nghiệp cả chưa xong…(mất 1544)
Thống-quân , nhờ rể lập-công thay mình.

Trịnh-Nguyễn phân tranh

Họ Trịnh xưng Chúa xứ Bắc

Rồi Trịnh-Kiểm giao-binh cùng Mạc.
Đời Trịnh-Tùng mới đạt nhiều công.
Cơ-đồ, Chúa-Trịnh lập xong,
Tự xưng "Nguyên-súy…" nắm trong lẫn ngoài.

Suốt thời Trịnh, vua ngồi làm vị.
Chúa giữ quyền chính-trị trong tay.
Mười đời Chúa Trịnh đổi thay,
Vua mười lăm vị, nối ngai vô quyền .

Họ Nguyễn xưng Chúa xứ Nam

Bởi Trịnh Kiểm gây nên tai-biến:
Giết Nguyễn-Uông, độc-chiếm uy-quyền.
Nguyễn-Hoàng sợ ở không yên,
Xin vào Thuận-Hóa (1558) lập riêng cơ-đồ.
Được vua phong cõi bờ trấn giữ,
Cùng Trịnh-gia một thuở phân-tranh.
Tương-tàn để hận sông Gianh!
Bốn lăm năm loạn, chiến-chinh bảy lần!
Công việc Chúa Trịnh

Trịnh, phương Bắc cầu-tân Trung-Quốc,
Mở ngoại-thương các nước Nhật, Lan .
Chỉnh-tu pháp-luật, an-bang.
Khai-thông hầm mỏ, mở-mang học-hành,

Đánh Cao-Bằng, hạ thành nhà Mạc.
Dẹp bao phen nội-tặc nhiễu-nhương ,
Hai trăm năm lẻ chủ-trương:
Phù Lê mượn tiếng, tranh-cường Nguyễn-Gia.

Trong thời ấy, nhiều nhà văn-sĩ...
Với thi ca nay hãy còn truyền:
"Phụ ngâm", "Cung-oán" , "Hoa Tiên" v.v.
Gia-tăng phong-phú cho nền văn-thi.

Còn ảnh-hưởng nhiều về hậu-thế:
Thời Gia-Long, đáng kể truyện Kiều,
Lời lời gấm dệt hoa thêu…
Quốc-văn từ đấy thêm nhiều vẻ-vang…

Công việc Chúa Nguyễn

Nam, Chúa Nguyễn trên đàng mở đất,
Hai trăm năm hoàn-tất các miền.
Chiêm-Thành, Chân-Lạp nối liền,
Giang-Sơn mở đến Hà-Tiên bây giờ.

Đặt thuế-khóa, quân cơ phòng-thủ.
Lập thêm dinh, định phủ khắp nơi…
Vũ-công oanh-liệt một thời.
Đất-đai muôn dặm, mười đời công-phu.

Người Âu-châu sang Đại-Việt trong thời Trịnh-Nguyễn phân tranh

Người Âu-Châu qua mưu truyền đạo,
Lần đầu-tiên, Công-giáo Gia-Tô;
Lâm-thời, A-lếch-đờ rô ,
Phiên-âm quốc-ngữ truyền cho người mình.

Các thị-trấn thạnh-hành buôn bán;
Tàu ngoại-bang lai vãng liên-miên.
Hội-An là phố đầu tiên,
Thứ nhì phố Hiến, vang tên một thời.

Nhà Nguyễn Tây-Sơn (từ năm 1778 đến 1802)

Nguyễn-Định-Vương nối ngôi còn bé (1765-1777),
Trương-Phúc-Loan ỷ-thế hoành-hành…
Trịnh, Lê lệ thuộc Nhà Thanh …
Tây-Sơn khởi-nghĩa trị-bình Bắc, Nam.

Bởi Chúa Trịnh mưu thâm gây loạn.
Vua Quang-Trung bao quản băng ngàn…
Ba phen đánh dẹp hiên-ngang,
Thanh-triều mất vía, Lê tàn từ đây (1789).

Quân Sĩ-Nghị một bầy thua chạy,
Chen qua sông nên gãy phù-kiều ;
Giặc Thanh thất-trận tiêu-điều,
Tướng lo tẩu thoát, quân liều thác trôi.

Quân Sầm-Đống đồng thời tan hết,
Gò Đống-Đa xác chết thành đồi.
Bắc, Nam chinh-phục yên rồi,
Anh-hùng áo vải lên ngôi trị-vì:

Huệ, Nhạc, Lữ ba kỳ chế-ngự,
Bắc, Trung, Nam mỗi xứ một người.
Quang-Trung (Nguyễn-Huệ) đồng thì,
An-dân, trị-quốc, phát-huy chí cường.

Người cương-quyết mở đường Bắc-tiến;
Còn sống thêm, giới-tuyến đến đâu?
Thời bình, người những lo âu,
Quốc-văn độc-lập mới hầu thoát-ly…
Vì lẽ đó nên chi huấn-luyện
Dùng chữ nôm, văn-kiện thông-thường.
Nơi nơi đều mở học-đường,
Văn nôm khuyến-khích chủ-trương rành rành.

Lo chỉnh-đốn các ngành chẳng thiếu:
Nào ngoại-giao, thông-hiếu Nhà Thanh.
Dẹp tao-loạn , tụ dân lành.
Thổ, điền phân hạng , ban-hành khuyến nông.

Về võ-bị, kỳ-công hiển-hách,
Việc tuyển binh, cưỡng-bách tòng quân
Anh-hùng cái-thế đã tần,
Chinh Nam, phạt Bắc, bao lần danh vang

Vua Quang-Toản còn đang tuổi trẻ,
Các đình-thần chia rẽ lẫn nhau
Nhân-dân chán-nản lo âu…
Gia-Long gặp dịp tóm thâu sơn hà.
Thống nhất thời đại và nhà Nguyễn (từ năm 1802 đến 1862)

Cháu Chúa Nguyễn, gọi là Nguyễn-Ánh,
Trốn Tây-Sơn ra lánh nước ngoài:
Xiêm-La, Phú-Quốc khắp nơi,
Viện binh đánh Lữ, mấy hồi gian-nan.

Chiếm Gia-Định mở-mang liên-tiếp…
Khẩn đất hoang, giao-thiệp với Tây,
Nguyễn-Vương thế mạnh từ đây,
Mấy lần tiến thoái, cũng dày công-phu.

Cũng thời-thế, cũng do khí-giới,
Nguyễn tóm thâu một mối giang-sơn.
Quốc-danh, đổi lại Việt-Nam,
Kinh-Đô đóng ở Phú-Xuân bấy giờ.
Mười tám năm, cõi bờ xây dựng (1802-1819),
Vua Gia-Long giữ vững mối giềng;
Chỉnh-tu bộ luật đầu tiên,
Xây thành, đắp lũy các miền hiểm nguy.

Việc thuế-khóa đồng thì định lại.
Sự an-ninh, được tái-lập đều.
Ngôi vàng, truyền tới mấy triều …
Vua, mười hai vị, gặp nhiều gian-truân.

Vua Minh-Mệnh, chuyên-cần, hiếu-học (1820-1840),
Hai mươi năm giữ được mối giềng.
Đặt Cơ-mật-viện đầu tiên,
Định ra lương-bổng và tiền dưỡng-liêm.

Về học-vấn, mở thêm khoa-cữ.
Nhưng bang-giao, đối-xử quá khinh
Tây, Âu… những nước văn-minh,
Không hề xét hỏi, dứt tình ngoại-thương.
Lại giết hại, xem thường Giáo-sĩ,
Nên ngoại-bang dụng-ý can vào.
Tình-hình trong nước xôn-xao,
Khôi, Vân dấy loạn đã bao nhiêu lần (1833).
Vua Thiêu-trị cũng tần cấm đạo (1841-1847);
Tự-Đức sau hoài-bão ý cha (1847-1883).
Lại thêm trong nước xảy ra,
Biết bao giặc-giã khó mà dẹp yên.

Thừa-cơ ấy, Pháp liền thôn-tính:
Tỉnh Biên-Hòa, Gia-Định, Định-Tường,
Còn mưu Trung, Bắc thị-trường…
Nghị-hòa nhâm-tuất (1862) ký nhường vừa xong.

Vua Tự-Đức những mong chuộc lại…
Việc không xong, còn phải mất dây:
Nam-Kỳ, ba tỉnh miền Tây .
Nghị-Hòa Giáp-tuất (1874) đổi thay lắm điều:
Nhường Nam-Kỳ và nhiều hải-cảng,
Mở ngoại-thương, buôn bán tự-do…
Triều-đình Huế những đắn đo…
Ngày càng yếu thế, càng lo bội phần.
Thành Hà-Nội hai lần thất-thủ ;
Mất Bắc-Kỳ, hải-khẩu Thuận-An.
Quí-mùi (1883) tiếp đến Giáp-Thân (1884),
Nhận nền bảo-hộ ngoại nhân từ ngày.

Các Trấn-Thủ lòng ngay, chí cả.
Sự tiết trung kia đã được ghi;
Tri-Phương, Hoàng Diệu ai bì ,
Quên mình vì nước, một bề chống Tây.

Trương-Công-Định cũng đầy nhiệt-huyết,
Mầm ngoại-xâm cố diệt cho tan,
Gò-Công, Chợ-lớn, Tân-An v.v…
Những nơi chống Pháp, ngày càng thêm gay …

Bởi quốc-vận gặp đầy tai biến;
Kém vũ-trang, phương-tiện cứu nguy.
Giang-Sơn, sự-nghiệp suy-vì!
Tám mươi năm lẻ, sử ghi hận thù.

PHÁP-THUỘC THỜI-ĐẠI (từ năm 1863 đến 1945)

Ba-Tờ-Nốt bao thu tủi nhục!
Đời dân ta cơ-cực, khó-khăn,
Tinh-thần, vật-chất, khả-năng,
Lâm vòng kiềm-chế, cản ngăn trăm đường.
Kẻ Ái-Quốc xót thương nòi giống,
Mãi căn thù hệ-thống thực-dân,
Tám mươi năm, biết mấy lần?
Vùng lên khởi-nghĩa, giành phần tự-do.
Tôn-Thất-Thuyết những lo dẹp giặc:
Đưa Hàm-Nghi lánh mặt nửa đêm ,
Cần-Vương truyền hịch khắp miền.
Dân Trung, Nam, Bắc đứng lên chống đều.

Phan-Đình-Phùng với nhiều tướng giỏi,
Đất Vũ-Quang giữ mãi đến cùng,
Quảng, Thanh, Nghệ, Tĩnh lao-lung ,
Mười năm quật-khởi, lẫy-lừng tiếng-tăm.
Hoàng-Hoa-Thám, với tâm quyết-liệt,
Gây cơ-đồ ở miệt Bắc-Giang (1888-1913),
Hai mươi năm lẻ bền gan,
Giữ vùng Yên-Thế, Pháp càng nể danh.

Vua Thành-Thái tán-thành du-học (1889-1907),
Đức Duy-Tân mưu cuộc đánh Tây (1907-1916),
Chương-trình bại-lộ tiếc thay!
Quốc-dân gặp phải chuỗi ngày tối tăm…!

Nêu gương sáng nhiệt tâm dựng nước
Với chủ-trương "cường-quốc, hóa dân"
Phong-trào, cách-mạng, Duy-Tân,
Hai Phan chí-sĩ bao lần đấu tranh…

Cuộc khởi-nghĩa nổi danh Yên-Bái,
Đảng Quốc dân với mấy anh-hùng,
Thất-cơ đến phút lâm-chung,
Còn hô khẩu-hiệu nhắc cùng hậu-sanh .

Các tiền-bối đều tranh độc-lập,
Bao xích xiềng quyết đập cho tan,
Đã từng chiến-đấu gian-nan.
Thời-cơ, quốc-vận đôi đàng chưa thông.

Thời-kỳ-thế-giới-chiến-tranh lần thứ 2 (từ năm 1939 đến 1945) & Nhật chiếm đóng Việt-Nam (từ năm 1940 đến 1945)

Quân Nhật-Bổn ở trong phe Trục ,
Đức, Ý cho thâu-phục Á-Đông,
Xâm-lăng các đảo thành-công,
Đặt chân đất Việt để mong lấy đà (2-9-1940).

Thực-dân Pháp giảng-hòa cầu-cạnh,
Quân Phù-tang thế mạnh tiến nhanh.
Mưu sâu cố diệt dân mình,
Vét vơ thực-phẩm để dành trăm kho.

Cả Pháp, Nhật đều lo trận thế,
Ai chủ-trương quốc-kế, dân-sanh?
Gây ra nạn đói hoành-hành,
Bắc-kỳ, hơn triệu dân lành thác oan…!

Chính-phủ Trần-Trọng-Kim và Việt-Nam độc-lập (ngày 17/4/1945)

Pháp đang bị lân-bang chi-phối.
Nhật thừa-cơ nắm khối Á-Đông ,
Sau khi lật Pháp vừa xong,
Cho Việt độc-lập nắm trong khối này.

Cái bánh vẽ dẫu gây hậu-quả,
Được tự-do cũng thỏa hờn căm.
Tháng tư, mười bảy, bốn lăm.
Tuyên-ngôn Độc-Lập, tiếng tăm nhất thời.




---------------------------------------------
---------------------------------------------
---------------------------------------------

Comments:

---------------------------------------------