Nhà Triệu (từ năm 207 đến 111 trước Tây-lịch)

Tần dụng-ý phân-cương Bách-Việt,
Chiếm Lĩnh-Nam là miệt nhiều châu...
Khác nào tằm nọ ăn dâu...
Lấn dần Âu-Lạc, tóm thâu một nhà.

Đặt Nam-Hải Triệu-Đà trấn thủ;
Triệu âm-mưu tự-chủ phương Nam.
Hoàn-thành những việc giả-tâm,
Thân-chinh diệt Thục, sơn lâm băng miền...

Bèn tôn Kiến-Đức Vệ-Dương trị-vì.

Bốn đời trước thành-trì vững-chãi,
Đến Vệ-vương gặp phải gian-truân :
Nào là quốc-nạn , địch-nhân...
Một năm nối nghiệp, hai lần chiến tranh ! Thục mất lảy, nước liền bị chiếm.
Triệu thiên đô cứ-hiểm Phiên-ngung.
Năm đời họ Triệu xưng hùng.
Quốc-danh Nam-Việt lẫy-lừng một phương.

Nhưng rất tiếc, Ai-vương thơ ấu,
Việc triều-đình chưa thấu mảy may;
Nỗi niềm Cù-Thị riêng tây:
Định dâng đất nước qua tay Sứ-thần.

Gã Thiếu-Quí vốn nhân-tình cũ,
Sẵn mưu sâu Hán-chủ đưa sang...
Hai bên đôi mặt giao-hoan,
Tình riêng gặp hội, hòa-thân một lòng.

Mưu đã quyết, khó hòng dung-túng,
Nên Lữ-Gia giữ đúng triều cương:
Giết Cù-Hậu lẫn Ai-vương;




---------------------------------------------
* Chú thích:
(19) Tần: Tần-Thủy-Hoàng (244t.t.l.), trước khi thống-nhất được thiên-hạ, thì nước Tàu thuộc về đời Tam-Đại (Hạ, Ân, Chu), cuối đời nhà Chu có Ngũ-Bá đời Xuân-Thu, Thất-Hùng đời Chiến-Quốc.
(20) Nam-Hải: Tên đất thuộc tỉnh Quảng-Đông nước Tàu.
(21) Cứ-hiểm: Căn-cứ hiểm yếu.
(22) Cù-Thị: Cù-Thái-Hậu mẹ của Ai-vương, là nhân-tình cũ của An-Quốc Thiếu-Quí, sứ-thần của nước Tàu.
(23) Thiếu-Quí: An-Quốc Thiếu-Quí
(24) Khi Triệu-Đà đánh An-Dương-Vương (Thục-vương), thì bên Tàu đã suy, nhà Hán sắp lên làm vua.
(25) Lữ-Gia: Tể-tướng trung thành của Nam-Việt
(26) Triều-cương: Quyền-cương của Triều-đình.
(27) Thái-tử Kiến-Đức lên làm vua lấy hiệu là Vệ-Dương-Vương.
(28) Quốc-nạn: Cù-Thái-Hậu và Ai-Vương bị Lữ-Gia giết: Địch-nhân: Quân Tây-Hán đem quân sang đánh.
---------------------------------------------
---------------------------------------------

Comments:

---------------------------------------------